Việt kiều ở Cambodia

Hãy gạt cái tôi của mỗi người sang một bên và cùng nhau viết phóng sự về chủ đề nhất định. Sức mạnh tập thể chắc chắn sẽ tạo nên một sản phẩm đầy đủ và nhiều thông tin nhất. Hãy cùng nhau tạo ra một kiểu làm báo mới, hãy là những người tiên phong!

Cách thực hiện là cùng nhau đi từ phần thảo luận chủ đề cho đến việc đề ra cấu trúc và đóng góp nội dung, bao gồm cả phỏng vấn đối tượng nếu có thể. Admin tạm thời đóng vai trò điều phối, biên tập (nếu cần thiết) và.... soát lỗi chính tả.

Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:44

Tôi không phải là dân trong nghề. Tiếng Việt vẫn còn hơi yếu. Tôi không biết bài sau đây được gọi là gì. Hy vọng, đăng vào diễn đàn chuyên nghiệp này để được anh em giúp đỏ: góp ý cắt bỏ, sửa chửa, thêm vào. Nói chung, bài viết cần phải có thay đổi, cả nội dung lẫn hình thức như thế nào thì sẽ gây ấn tượng và thu hút nhiều người đọc hơn.

Trong quá khứ tôi có post một vài bài nhỏ trên vài diễn đàn, nhưng nhiều lúc bị bà con cứ chê, chủ yếu là chê cách viết và chê tiếng Việt. Vì bài quá dài nên xin đăng làm nhiều post. Mong Mod và các bạn đọc bài để tăng cường ít ra cũng được một vài kiến thức nho nhỏ trong suốt 14 trang; và đừng quên giúp mình năng cao tiếng Việt nha. :)


Phần I: Người Việt ở Cambodia

Chúng ta thường xuyên nghe tin tức, những mẫu chuyện về Việt kiều (VK) Mỹ, Pháp, Úc, Canada, vv, nhưng ít khi bàn đến VK ở Cambodia (Cao Miên: CM), dù rằng cộng đồng người Việt ở Cambodia là CĐ lâu đời nhất, (đã có thời) đáng hãnh diện nhất, thành công nhất và hiện nay: nghèo khó nhất. Sách vở viết về VK ở CM một cách đầy đủ cũng không được xuất bản nhiều. Lâu lâu xuất hiện một vài câu chuyện/ tường thuật du lịch hay đời sống VK ở CM, nhưng những chuyện tế nhị, các chi tiết sâu xa gián tiếp hay trực tiếp dẫn đến tình hình hiện tại của hầu hết VK tại Cambodia thường hiếm khi được nhắc đến và luôn có giới hạn.

Bài viết trích dẫn nhiều dữ liệu thông tin từ cuốn sách: “Việt kiều ở Kampuchea” của soạn giả, nhà văn Lê Hương. Cùng một số sách như: Phnom Penh, a cultural history; Cambodia: report from a tricken land; và từ nhiều nguồn tài liệu, thông tin khác.

*

Pháp phải dùng vũ lực cưởng chiếm Việt Nam và đối phó với hàng chục cuộc vùng lên trong suốt gần 100 năm cai trị. Tuy nhiên, nhờ đội ngủ truyền giáo người Tây Phương đã hoạt động tại VN trong suốt vài thế kỷ, đào tạo được hàng ngàn tín đồ và cảm tình viên người Việt, nên việc thiết lập bộ máy cai trị của thực dân Pháp diễn ra nhanh chóng và tương đối suông sẻ. Trong khi đó, tình hình ở Cambodia (Cao Miên: CM) xảy ra một cách trái ngược. Nơi đây, Phật giáo được xem là quốc giáo, mọi công dân đều là Phật tử; sư sãi, nhà chùa có ảnh hưởng rất lớn đối với Hoàng gia và dân tộc Khmer (K). Bởi vậy, cho dù các Quốc vương CM luôn luôn chào đón sự hiện diện của người Pháp, nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc vào hai lân quốc hùng mạnh – Việt Nam và Siam (Thailand) – thì các sư sãi K vẫn không bao giờ khuyến khích Phật tử của họ hợp tác với người Tây phương ngoại đạo. Đa số tín đồ Công giáo tại Cambodia từ 200 năm qua vẫn là người Miên gốc Việt Nam. .

Vừa rồi là lý do tại sao người Pháp không gặp sự kháng cự, nhưng họ phải nhờ người Việt giúp họ thiết lập bộ máy chính quyền và truyền bá văn hóa Tây phương đến với người K. Trong khuông khổ giới hạn của bài viết , tôi chỉ nêu lên một số sự kiện đã xảy ra ở CM ảnh hưởng trầm trọng tới đời sống Việt kiều ở CM. Từ một cộng đồng sung túc được nể trọng bởi người Khmer, người Tàu và được cưng chìu bởi người Pháp, bổng trở nên cộng đồng nghèo mạt, không ngóc đầu lên mổi, nhất là kể từ khi CM trở thành một quốc gia độc lập. Cho tới ngày hôm nay, Việt kiều ở CM vẫn còn là nạn nhân của những kẻ quá khích. Họ phải sống âm thầm, luôn luôn cảnh giác và lắm khi phải nhịn nhục để giử lấy thân.
Sửa lần cuối bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 01:04 với 1 lần sửa trong tổng số.
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:45

I. THỜI KỲ BẢO HỘ, TRƯỚC 1945

1. Người Việt cần thiết cho chính quyền thực dân:

Ngay từ lúc đầu, Pháp đã nhờ hàng ngàn VK theo đạo Công giáo đang lánh nạn cấm đạo, gia nhập vào guồng máy của chính quyền thực dân tại Lào và Cambodia. Sang thế kỷ 20, người Pháp bắt đầu nhập người V sang CM và Lào. Bắt đầu những năm 1920, nhu cầu cần có VK gia tăng nên học sinh học xong trung học, ngay cả chỉ cần xong 4 lớp TH ở VN là có thể sang CM để làm công chức trong mọi cơ quan chính phủ, làm tư chức hay giáo viên.

Nhờ biết tiếng Pháp nên các công ty tư nhân chủ người Tây chỉ nhận nhân viên VK. Người Tàu, người Ấn cũng tìm nhân viên VK để lo việc sổ sách cho họ, đồng thời giúp họ giao tiếp với quan chức người P trong chính quyền. Lúc này người Pháp bắt đầu mở trường, vì vậy giáo viên VK rất cần thiết. Họ phải học tiếng K để có thể dạy tiếng Pháp cho trẻ em người K. Cần biết là lúc bấy giờ, dân K vẫn còn tôn trọng lối học truyền thống, tức là đến chùa để học tiếng Khmer, do các sư sãi chỉ dạy. Thời này học sinh VK học đầy trường công ở CM.

2. Nghề nghiệp của Việt kiều ở Cambodia:

Trong thời kỳ này, người Việt Nam từ Việt Nam sang Cambodia làm ăn cũng đông. Làm ăn mưu sống ở CM rất dễ phát dạt, vì người K không ham làm, ham học. Ngoài làm công chức, tư chức, giáo viên, giáo sư, họ còn buôn bán nhỏ và làm nhiều nghề khác:

Những nghề điển hình khác của VK: thợ in, chài lưới, làm nước mắm, bán sách báo, phu cao su, làm ruộng rẫy, phá rừng khai hoang, thợ mộc, thợ may, thợ máy, đóng giày, thợ điện, thợ hồ, hớt tóc, mở tiệm vàng. Ngoài ra, VK còn chuyên luôn nghề giúp việc cho hàng ngàn gia đình người Pháp và Âu Mỹ đang sống ở CM : quản gia, tài xế, làm vườn, vú em. Những công trình xây dựng lớn, nhỏ của chính phủ (và phần lớn nhà cửa hiện đại ở CM) đều do bàn tay VK xây lên: Royal Palace, viện bảo tàng, các dinh thự, bệnh viện, cơ quan chính phủ, khu nghĩ mát trên núi Bokor, vv, ở Phnom Penh và khắp nơi, cho đến bàn, ghế, tủ, giường, vv, từ xa xưa đến cả nay.

Nói chung, trước chiến tranh Indochina I, VK ở CM là lực lượng lao động chính của chính phủ, trong các văn phòng và trong các dinh thự của người Âu Mỹ. Có nhiều người có chức vụ chỉ huy cơ quan hay chỉ đứng dưới một người Pháp. Có người giàu có nổi tiếng, đóng góp nhiều tiền bạc hay công sức cho chính phủ Hoàng gia CM nên rất được trọng vọng. Những người sống bằng nghề thủ công, tiểu công nghệ đều có cuộc sống sung túc. Cộng đồng VK ở Nam Vang là một CĐ rất tưng bừng vào các dịp lễ của người V. Thời này nhiều người T, K cũng học tiếng V, vì nhu cầu và vì nể phục.

Người Việt có tiếng vang về sự cần cù, thông minh, xốc vác, năng nỗ và đa tài. Đó là lý do tại sao người Pháp có một expression nỗi tiếng trong thời gian sống ở Đông Dương: “The Vietnamese plant rice, the Cambodian watch it grow and the Lao listen to it grow.” Người Việt ít để ý đến thành ngữ này. Người Khmer thì không muốn nghe ai bảo họ thua người Việt. Còn người Lào thì luôn vui vẻ, dễ dãi, hiền lành, an phận, thành thật – nhiều công ty du lịch Lào thích sử dụng thành ngữ này để nói lên bản tính đặc trưng của người Lào.
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:47

II. THỜI KỲ THUỘC ĐỊA, SAU 1945

Hết chiến tranh thế giới II, Pháp được Hoàng gia CM mừng đón sự trở lại, trong khi tại VN kháng chiến giành độc lập bắt đầu bùng nổ và lan rộng. Hơn nữa, có một số công chức Việt kiều bỏ nhiệm sở, quay về VN tham gia kháng chiến chống P. Có 60-80 ngàn người Việt bỏ chạy sang Thái Lan để tránh sự trả thù của người Pháp – có VK từ Lào, CM, nhưng nhiều nhất là từ miền Trung và Bắc. Người P bắt đầu nghi ngờ và mất dần thiện cảm đối vơi VK. Chính quyền CM chụp lấy cơ hội, lập tức ngấm ngầm phát động phong trào trấn lột, hiếp đáp và hạ bệ VK. Bắt đầu là nạn cáp duồn và chiếm đất; hô hào phong trào: ” Đất Miên phải trả lại cho người Miên”. Nạn “cáp duồn” xuất hiện tại CM và ngay cả trên lảnh thổ VN: Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, vào cuối 1945, đầu 1946.

1. Cáp duồn:

Cáp duồn là gì?

Cáp : chặt đầu; duồn: yuon hay người Việt.

Tại sao gọi “yuon” ?

Người dân ở những nước bị ảnh hưởng văn hoá Ấn độ gọi dân khác văn hoá là yuon, yuan, vv. biến thể từ chữ yuavana, có nghĩa là man di – một hình thức tự cao tự đại, cho rằng văn hoá của mình là số một. Chính vì vậy mà người Thái, các dân tộc sống ở Mã Lai, người K, Bahnar, Stien, Rade các dân tộc thiểu số sống ở VN như: Bà Na, Stiêng, Ra Đê (Bahnar, Stien, Rade) đều dùng yuon để gọi người Kinh. Thời buổi văn minh, tên gọi yuon không còn phổ biến (ngoại trừ người K), vì có ý nghĩa không lành mạnh. Nên biết thêm là người Miến Điện, người theo đạo hồi sống ở Tây Nam TQ, vv, cũng gọi người TQ là yuon. Tuy nhiên, người K tìm đủ mọi cách biện hộ rằng họ không kỳ thị, đừng ép họ phải bỏ chữ duồn.

Có thể gọi cáp duồn là cuộc thảm sát người Việt gây ra bởi người Khmer. Thông thường cáp duồn đi kèm với nhiều tệ nạn như cướp bóc, hảm hiếp phụ nữ, chiếm đoạt tài sản.

Dân K họp thành từng đoàn có vũ trang dao gậy, xông vào đuổi VK ra khỏi nhà, không cho mang theo cái gì cả. Nếu chống cự thì họ chặt đầu hay bắt giử phụ nữ để hảm hiếp tập thể. Dĩ nhiên là VK bị mất trắng tay. Có nhiều người nhanh chân chạy về hướng trụ sở huyện thì bị nhóm cáp duồn khác chận lại lột sạch luôn quần áo, nên sau đó phải lấy lá che thân.

Cáp duồn ở Cambodia chủ yếu là xua duổi để chiếm đoạt, tuy nhiên cũng có nhiều người chết vì chậm chân hay vì chống cự lại. Xác chết thường bị vức xuống giếng, ao, sông hay lạch. Ở VN, có hai loại cáp duồn: do người K đang sống ở VN hay do người K xâm nhập vào lảnh thổ VN gây ra. Cả hai loại đều xảy ra ban đêm: bất ngờ tấn công, hôi của đem về làng của họ, gặp đàn ông là chặt đầu, gặp phụ nữ thì bắt hiếp tập thể – nhiều khi họ mang về CM và chỉ thả nạn nhân sau một vài ngày.

2. Chiếm đất của Việt kiều:
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:48

2. Chiếm đất của Việt kiều:

Tại những nơi không tiện cáp duồn thì người K áp dụng chính sách khủng bố đe dọa, đồng thời lấn chiếm từ từ. Số là dưới thời bảo hộ, Việt kiều từ miền Nam VN (thuộc Pháp) có quyền xin giấy phép khai phá đất hoang, đất rừng để trồng trọt. Sau đó họ nộp thuế để nhận quyền tư hửu. Cũng có nhiều người mua lại đất hay ruộng của người M để làm kế sinh nhai. Nhiều VK nhờ chăm chỉ mà có cả hàng trăm mẫu đất, ruộng.
Thế nhưng, người K đột ngột tung ra khẩu hiệu: “Đất Miên phải trả lại cho người Miên” và ngang nhiên lấn chiếm. Họ tự động cất nhà trước cửa nhà VK, phóng uế, quăng đồ vật dơ dáy xung quanh nhà để gây chuyện, khủng bố, đe dọa và đuổi khéo chủ nhà. Chủ nhà VK muốn cây trái, rau quả gì trong vườn phải “xin phép”. Họ tự do cày bừa ruộng rẫy. Nếu VK phản đối, họ đánh hoặc rướt chém.

Kết quả, hàng ngàn nông dân Việt kiều hồi hương về Việt Nam. Số còn lại phải đổi nghề hoặc đi làm công cho chính kẻ đã cướp mình. Đi trình làng, xã, huyện, ngay cả lên Nam Vang khiếu nại với đức vua (nhà vua tiếp xúc dân chúng mỗi tuần một lần) cũng chỉ được hứa sẽ giải quyết.

3. Việt kiều bắt đầu bị hiếp đáp:

Cũng từ đó, ở vùng nông thôn, mỗi lần có chuyện xích mích với người Việt Nam thì người Cambodia chỉ cần hô to: “An Nam đánh K” hay “Yuon đánh K” là có ngay cả chục người nổi lên vác gậy xông vào đánh, bất kể già trẻ lớn bé. Nếu xảy ra ở nhà, đàn bà con gái VK chậm chân bỏ chạy là có thể bị hiếp dâm tập thể.

Tại Phnom Penh, vì có nhiều tai mắt quốc tế, nên chỉ xảy ra những vụ hảm hiếp, trấn lột lẻ tẻ tự phát. Nhiều dân đạp xích lô cũng dám lên mặt với VK. Họ đòi VK phải trả tiền nhiều lần cao hơn bình thường. Nếu không trả, thì họ đánh và kêu lớn “cáp duồn” để đồng nghiệp hay một số người quá khích tiếp tay với họ.

4. Truyền đơn khích động sự căm thù:

Cũng trong thời gian Pháp vừa quay lại này, xuất hiện những tờ truyền đơn vẽ hình các tướng VN (thời vua Gia Long sang bảo hộ CM) bắt ba người Khmer chôn đứng dưới đất chỉ ló cái đầu lên trên làm ba ông táo để nấu nước uống. P hay Hoàng gia CM hay cả hai cùng cấu kết để tung ra chiêu bỉ ổi này là chuyện còn giữ bí mật.

Ngày nay, đảng đối lập Sam Rainsy và những phần tử quá khích người Khmer vẫn thường dùng những bức hình đó để gây phong trào căm ghét người Việt, để nhắc nhở sự độc ác mà người dân Miên sẽ chịu đựng nên không cảnh giác sự có mặt của người Việt tại Cambodia. Một đòn tâm lý vô cùng thâm độc, góp phần làm cho VK lao đao khốn đốn và “gia hạn” tình thế bần cùng, mù mịt tối tăm và cô độc của cộng đồng VK ở CM và làm cho VK khó ngóc đầu lên được, ngoài trừ phải che dấu hay từ bỏ nguồn cội.

Một điều ngược ngạo: VN hay người Việt từng bị cáp duồn dã man thì thế hệ trẻ VN ít hay biết, vì bản tính dân tộc Việt Nam thường tha thứ, bỏ qua những chuyện đau lòng của quá khứ, chứ không cất giữ, thù dai. Trong khi VN cứu giúp Cambodia bao nhiêu lần, nhưng vì tự ti mặc cảm hèn yếu, thua kém, và tâm lý phủi ơn mà một số phần tử cực đoan hay bịa đặt, quảng cáo những câu chuyện, hình ảnh không thật về VN và con người VN. Hãy google “prayat kompup te ong” hay nhấn vào đây để xem trò tuyên tuyền thâm độc.

III. THỜI KỲ CAMBODIA ĐỘC LẬP, SAU 1953
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:49

III. THỜI KỲ CAMBODIA ĐỘC LẬP, SAU 1953

1. Vào quốc tịch, đổi thẻ căn cước, thẻ cư trú:

Năm 1945 Nhà Vua có kêu gọi ngoại kiều nhập quốc tịch CM với mọi điều kiện dễ dãi và không tốn tiền. Rất tiếc là có rất ít người tham gia, ngoài trừ một số VK Công giáo đã sống ở Nam Vang từ thời chạy nạn – tránh vụ cấm và giết người Công giáo tại VN – hay những người Tàu làm trong ngành xuất nhập khẩu vì quyền lợi của công việc. Dĩ nhiên là nhà vua không vui. Nay, CM đã độc lập, nhà vua đưa ra những luật lệ rất nghiêm khắt:

#1. Phải đóng 10 000 riels (Tôi nghĩ sách in lộn con số 10 với 1) tiền cước phí gia nhập quốc tịch. Lúc này, giá chính thức cho việc thay đổi căn cước VN sang căn cước VK (Việt kiều) chỉ tốn 50 riels.

#2. Phải biết nói, đọc, viết chữ K, ít nhất là những chữ trong các thông báo dán ở nơi công cọng. Sau hai năm kiểm tra lại, nếu không đạt được có thể bị trả lại quốc tịch cũ.

#3. Trong năm năm, phải tập sống theo phong tục, tập quán của người K; không được vi phạm mọi luật lệ; không được xúc phạm tới người K chính cống và văn hóa K; không được trộm cắp, ăn cướp, làm chính trị, hiếp đáp người khác. Điều lệ #2 và #3 như cái án treo đối với VK. Nó tạo điều kiện cho các quan làm tiền VK lâu dài và dễ dàng hơn.

Rõ ràng, điều kiện quá khó và lệ phí quá đắt, chưa kể nạn hối lộ, làm tiền. Vì vậy, đa số VK không thể nhập tịch được. Giấy tờ như căn cước riêng dành cho VK và thẻ tạm trú, thường trú cũng hay bị thay đổi. Ngoại kiều nào cũng bị ảnh hưởng bởi thủ tục mới, nhưng chỉ có VK là bị khổ nhiều và khổ dài dài. Hiếm có VK nào chỉ trả đúng giá chính thức hay gặp mọi điều suông sẽ mà không tốn nhiều tiền thêm.

Thông cáo thì đưa ra đột xuất mà thời hạn thì luôn có giới hạn ngắn ngủi vài ngày. Quan chức thì ung dung chờ VK đưa tiền mới tiến hành giải quyết. Nhiều VK ở tỉnh lẻ hay tin chậm. Thế là bị bắt giam. Có khi bị sạt nghiệp hay bị trục xuất về VN.

Nói chung, vì các quan làm việc có chính sách, có tổ chức, có hệ thống và có phối hợp các cấp chính quyền. Các quan thường tỏ ra hung hản, quyết liệt, chỉ biết có tiền nên lúc nào VK cũng sợ các quan hù dọa, truy tố, sợ bị tống về VN và là nạn nhân của mọi đổi thay, mọi luật lệ mới. Công chức VK là thành phần ngoại lệ, họ gần như được mời nhập tịch, vì CM cần sự phục vụ của họ.

2. Luật cấm nghề:
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:51

2. Luật cấm nghề:

Tháng 6 năm 1957, CM đưa ra luật cấm ngoại kiều làm 24 nghề. Lúc đầu cấm người không có quốc tịch làm 18 nghề, ba tháng sau cấm thêm 6 nghề. Mỗi tỉnh còn có quyền cấm thêm 6 nghề hay 6 cách sinh hoạt kiếm sống, tuỳ vùng – gần như cấm hết tất cả mọi nghề vào thời buổi lúc ấy. Có những nghề mà người K sẽ không thể nào thay chổ cho người V hay ít ra đòi hỏi một thời gian dài, vẫn bị cấm: Thợ mộc, thợ hồ, đánh cá ở Biển hồ, phu cao su, thợ sửa xe, thợ in, thợ vàng, thợ điện, thợ may, thợ hớt tóc, dược sĩ, công chức, tư chức, vv. Không chỉ cấm nghề mà còn cấm làm chủ và cấm bán nhà cửa, đất đai cho người không phải là K, cũng làm điêu đứng cho VK, vì người K được dịp ép giá tối đa.

Dù luật cấm tất cả mọi nghề đối với ngoại kiều là không thực tế và không thể nào thực hiện được, nhưng nó mở cánh cửa cho người K có cơ hội vươn lên; mới là chủ của CM; nâng cao giá trị của người Miên: sang sẽ sự giàu có từ người Việt và người Tàu cho người K; đồng thời tất cả đều nằm trong kế hoạch ngấm ngầm bần cùng hoá người Việt. Trong khi đó, các quan chức M có thêm nhiều cơ hội làm giàu túi tiền một cách công khai hơn. Ngoại kiều chưa vào quốc tịch sẽ bị làm tiền thường xuyên và gặp khó khăn đủ điều.

3. 70% nhân viên Miên:

Vua Sihanouk kêu gọi dân chúng canh tác ruộng đất, chính phủ sẽ hổ trợ mọi thứ, nhưng không ai hưởng ứng, đất đai vẫn bị bỏ hoang quá nhiều. Vua nhận ra dân K lười quá, không có trách nhiệm và có nhiều tật xấu nên chủ Tây, Mỹ, Tàu và Việt không chịu mướn. Vì vậy, ông quyết định ra luật đòi hỏi mọi cửa hiệu, cơ sở, công ty, phải mướn ít nhất 70% nhân viên người K.

Tháng 7/1958, một năm sau khi cấm nghề, sắc luật được ban hành. Thế là, ví dụ: Trong một tiệm sửa xe, có ba thợ V nay phải thuê thêm bảy thợ K. Bảy thợ K chỉ có nhiệm vụ quét rửa, dọn dẹp hay ngồi chơi, chứ không dám để họ mó tay vào việc làm. Nếu chủ tử tế cho họ học nghề thì vừa mới biết sơ sơ đã đòi lên lương, rồi muốn làm thì làm, nghỉ thì nghỉ, hễ đuổi thì họ đi thưa, chủ sẽ bị phạt. Theo ô Lê Hương, người từng sống ở CM, 1946-66: người K làm biếng, hay ăn cắp, không có lương tâm, không nể sợ người mướn mình, nên nhiều ông chủ thường thuê họ cho lấy có, chứ thợ V và T vẫn giữ lại. Vì vậy, chủ phải đóng lệ phí, nộp tiền phạt mỗi khi quan đến khám (vì dễ có tiền nên quan rất chăm đi khám xét) hay lùa thợ V thợ Tàu đi trốn và dùng thợ “dổm” người K đóng kịch đổi vai đúng lúc.

Ở những nơi cấm ngoại kiều làm chủ như tiệm vàng, nhà in, tiệm thuốc Tây… thì phải thuê một người K đứng tên làm chủ. Ngoài ra phải giỏi tổ chức các màn kịch nhằm che mắt các quan. Một hiệu may có 3 người V phải thuê 7 phụ nữ K nấu nướng, giặt giũ, giữ con ngay trong tiệm. Khi quan đến thì thợ V và K đổi vị trí cho nhau.

4. Cách làm tiền Việt kiều:
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:52

4. Cách làm tiền Việt kiều:

Hầu hết các quan người K có danh sách VK đang sống hay hành nghề tại khu vực dưới quyền. Hạng VK tai to, mặt lớn, có tên tuổi, trình độ trí thức cao thì do quan lớn “phụ trách, còn hạng bình dân, lao động thì thuộc vào phạm vi của các quan nhỏ địa phương.

+ Thật ra, loại quan nào cũng có thể kiếm được tiền nếu biết đó là VK. Ví dụ: nhân viên ty vệ sinh làm lơ khi thấy người Tàu quậy phân tưới rau cải – mùi hôi thúi bay khắp xóm nhằm ngay giờ cơm chiều. Trái lại, vào nhà VK kiểm tra vệ sinh thì hạch xách đủ điều, chẳng hạn như, thấy lót gạch dưới sàn thì đòi xem giấy phép – quan doạ tố cáo trước toà án nếu chủ nhà không chịu đưa tiền. Vừa rồi là một dẫn chứng làm tiền đối với VK bình dân.

+ Việt kiều khá giả có sự nghiệp, có cửa hàng thì quan áp dụng chiến thuật có bài bản hẳn hoi. VK được mời đến văn phòng, quan đưa ra một cái cớ nào đó (đâu có ai dại gì bảo quan nói xạo hay cải lại), tạm giử vài ngày, rồi cho đám tay chân thông báo thân nhân nộp tiền chuộc. Số tiền nhiều ít tuỳ quan ấn định dựa vào gia tài của VK. Cứ thế xảy ra mỗi vài ba tháng.

+ Đối với Việt kiều làm ăn lớn, có tiếng trong xã hội thì khi đến văn phòng, quan đệ nghị thẳng: hội từ thiện này, đoàn thể nọ mới thành lập, công trình lớn kia đang tiến hành, nhờ ông ký tên đóng góp vào sổ vàng. Trường hợp quan chưa vừa lòng với số tiền ký sổ thì khó mà xin về.

5. Một câu chuyện điễn hình về nạn hội lộ và vô lương tâm:

Đây là câu chuyện mà người Việt, người Tàu nào cũng thuộc lòng vào những năm 1960 ở CM. Ở góc đường Piquet và Charles Thompson, có một xe bán hủ tiếu. Mỗi buổi sáng có một quan cảnh sát có nhiệm vụ trực khúc đường ấy đến ăn một tô. Quan hay gọi nước uống, người bán hàng phải bó tiền túi đi mua nước hầu quan. Ăn xong quan gọi thêm một tô để đem về cho vợ. Sự việc cứ thế diễn ra hết tháng này sang tháng khác và quan không bao giờ trả tiền. Một hôm, sau khi quan và vợ ăn xong, quan bảo: “lâu quá, không phạt anh lần nào, bửa nay xin phạt một lần”. Người bán hàng tưởng quan đùa, nên mỉm cười. Quan nổi giận, trợn mắt lớn tiếng nạt: “Bộ tao giỡn với mày sao, hả? Giấy tờ đâu, đưa đây coi!”

6. Sinh hoạt báo chí tiếng Việt:
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:53

6. Sinh hoạt báo chí tiếng Việt:

Dưới thời bảo hộ, VK tha hồ xem sách báo từ Sài Gòn gởi sang. Sau ngày độc lập, sách báo từ SG bị cấm. Nếu bị phát hiện có, ngay cả một tờ giấy báo cũ rách đang gói đồ cũng có thể bị ngồi tù nếu không đưa hối lộ. Báo chí VK đua nhau phát hành, hết tờ này đến tờ khác. Tuy nhiên, bài viết thường nịnh chính phủ Hoàng gia (bài viết nịnh cũng như tấm bùa hộ mệnh) và chủ yếu là đánh đá giữa hai nhóm VK với nhau: thân miền Nam hay thân miền Bắc. Chủ báo, chủ bút nhiều khi vào tù vì bị VK khác truy tố bài viết có nội dung bất lợi cho Hoàng gia hay văn hoá CM. Thời này có một ít VK xấu tính chuyên đi theo dỏi, ghi thành một cái list VK bất đồng chính kiến rồi báo cáo với các quan chức người K để họ tiêu diệt dùm người mình ghét. Dĩ nhiên, đây là những dịp tốt để quan “làm nghèo” cho VK.

7. Sinh hoạt văn nghệ của Việt kiều:

Thời Pháp thuộc, các đoàn cải lương từ Việt Nam tấp nập sang trình diễn ở Nam Vang và các tỉnh còn thường xuyên hơn là ra Trung và Bắc. Sau 1945, vì sự gây khó dễ của chính quyền CM và bị làm tiền một cách trắng trợn nên chỉ có một số đoàn hát nhỏ liều mạng sang CM và ê chề thất bại, lủng túi mò về lại VN. Sau khi Cambodia độc lập, 1953, họ cấm hẳn đoàn hát từ VN sang.

Sau một thời gian vắng bóng, năm 1959 một VK có quốc tịch CM là ông Tang Long thành lập gánh hát VK thành công suốt 7 năm, nhưng gần bị bại sản. Gánh hát này được hưởng ứng khắp cỏi CM. Chương trình có cả tiết mục múa truyền thống kiểu K để tỏ ra thông cảm và ngưỡng mộ văn hoá K.

Có lẻ vì thấy ông chủ giàu có, nên chính quyền đề nghị ghi vào đơn xin phép là tự nguyện “dâng cúng” 50% tiền thu được, để giúp đở tài chính vào việc xây cầu bắc ngang sông Tonle Sap ở ngoại ô Nam Vang.

Thế là chính phủ gởi người đến bán vé, thu tiền. Hết xuất hát, các quan đưa cho đoàn hát 50%, nhưng thật ra chỉ 10-20%, tuỳ ý quan. Khi cầu xây xong, chủ gánh hát tưởng đã thoát nợ, từ nay sẽ tự do bán vé thâu tiền, gở gạc lại phần nào, nhưng không phải vậy. Các quan có chiến dịch khác: hát giúp cho hội từ thiện này, đoàn thể xã hội nọ. Cứ thế cho mọi buổi hát.

Nhiều Việt kiều giàu có cũng đua nhau mở gánh hát. Đôi lúc có tới 3 gánh cùng diễn trong một đêm tại Nam Vang. Lúc này đã có luật rõ ràng là mỗi xuất hát phải đóng góp vào công quỷ 30%. Tuy nhiên, các quan có nhều cách gây khó dễ để làm tiền nên gần chục gánh thay nhau bị sụp tiệm. Cuối cùng, vào khoảng đầu năm 1967, có luật mới: VK không được lập gánh hát cải lương.

8. Tổ chức cộng đồng của người Việt Nam:
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:53

8. Tổ chức cộng đồng của người Việt Nam:

Vào thập niên thứ hai của thế kỷ 17, Quốc vương Chey Ches Da II cưới công chúa Ngọc Vạn, con chúa Sãi. 500 cô gái và 500 lính đã được phái theo để bảo vệ và phục vụ công chúa. Đây là những người Việt Nam chính thức đầu tiên trên đất Cambodia. Vào đầu thế kỷ 19, theo ghi nhận của những nhà truyền giáo Tây phương thì đã có ba ngàn ngư phủ người Việt hành nghề trên Biển hồ, giữa Battambang và Siêm Reap (Năm 1954, khoảng 100 ngàn VK sống trên Biển hồ và toàn CM khoảng 350 ngàn người). Rồi hàng ngàn người trốn vụ bắt đạo Công giáo ở VN định cư tại Nam Vang. Thế nhưng cho đến năm 1938 mới xuất hiện tổ chức đầu tiên của người Việt Nam.

Ngày 13/6/1938 hội Nam Kỳ Ái Hữu (Amicale Cochinchinoise du Cambodge). Lúc này, do nạn kỳ thị Bắc Nam được người Pháp khai thác nhiều, nên hội NKAH chỉ nhận VK quê ở miền Nam hay có quốc tịch Pháp gia nhập. Vài tháng sau, hội Việt Kiều Tương Tế (Mutuelle des Annamites du Cambodge) được thành lập. Hội này nhận tất cả mọi người, không phân biệt Nam, Bắc, Trung. Rất tiếc cả hai hội đều chỉ hoạt động trong phạm vi: phúng điếu hội viên hay tứ thân phụ mẫu từ trần. Vì vậy, hai hội này thật ra chỉ có hư danh trong suốt 12 năm trời.

Năm 1950, ông khâm sứ Pháp ở CM kêu gọi hai hội nhập thành một và khuyên nên bỏ chữ Cochinchinoise và Annamites, Vì hai chữ này không còn thích hợp với hoàn cảnh VN đã thống nhất trở lại. Hai, ba tháng tranh cải quyết liệt – một bên quyết tâm giữ chữ Ái hữu, bên kia thì chữ Tương tế. Khi trình lên toà khâm để xin đăng ký hoạt động thì ông khâm gạch bỏ cả hai, Ông ghi là Association des Vietnamiens du Cambodge, tức là: Hội Việt kiều tại Cambodge.

Từ nay, hội mở rộng hoạt động, giúp đở kiều bào nghèo, mở phòng khám bệnh miển phí không phân biệt K, V, T, lào, chàm, Thái…, phát học bổng cho trẻ em nghèo và đại diện cộng đồng tham gia nhiều hoạt động xã hội. Rất tiếc, vì tình hình chính trị tại VN và vì chính sách kiềm chế của chính phủ CM mà sau 7 năm hoạt động tích cực hội bị tan rã.

9. Thành phố Phnom Penh:
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:54

9. Thành phố Phnom Penh:

Dưới thời Cao Miên được Việt Nam bảo hộ, VN khuyến khích vua CM dời thủ đô từ Udong về Nam Vang. Sau khi vua Ang Chan II mất, VN lập con gái lên ngôi làm bù nhìn nhằm đặt ách đô hộ. Sau đó, Ang Duang được quân Siem đưa về và lên ngôi vua. Ang Duang dời ngôi về lại Udong, lúc đó Hoàng thành chỉ là những ngôi nhà sàn được làm bằng cây và tre. Sau khi ký kết hiệp ước bảo hộ, Người Pháp khuyên Quốc vương CM nên dời đô đến Nam Vang. Lúc đó, ở ngoại ô Nam Vang là nơi định cư của mấy ngàn người Công giáo VK và mấy ngàn người Chàm; người K rất ít và không có một kiến trúc lịch sử nào trước khi Pháp đến.

Theo lời truyền khẩu thì VK đặt tên Nam Vang có nghĩa là người Việt “Nam vang“ dội trên đất CM. Truyền thuyết khác cho rằng vì ông Trương Minh Giảng khuyên vua CM dời đô về Nam Vang nên VK gọi nó theo tên thân mật của ô. TMG là thành phố Năm Giảng (ông Giảng thứ 5). Năm lần lần đọc thành Nam, còn Giảng đọc thành Giang, mà người Nam đọc giang thành vang. (Tôi ghi luôn vào đây chỉ là giúp vui).

Việc đọc trại tên xảy ra rất nhiều ở các cộng đồng VK lâu đời: Lào, CM và Thái. Ví dụ: thời cấm đạo, đạo Công giáo (bây giờ) được gọi là Hoa Lang đạo. Ai bị bắt thì bị xâm trên trán: ‘Học Hoa lang đạo.” Xóm người Việt ở khu cầu Sài Gòn tại Nam Vang có tên Gọi là xóm Hoà lang, tức xóm Công giáo thay vì tên Hoa lang như lúc ban đầu.

Xin xem tiếp phần II: Nạn cáp duồn
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:57

10. Bắt đầu xuất hiện sự công khai bài xích người Việt:

Năm 1930, Pháp cho mở học viện Phật giáo học. Từ nay các sư sãi tu theo phái tiểu thừa tại CM, Lào và người K ở đồng bằng sông cửu Long (VN) không cần phải đi Bangkok để học các lớp học cấp cao. Một nhóm người thuộc lớp đầu tiên của trường này, trong đó có nhân vật chính trị nổi tiếng: Sơn Ngọc Thành, đã xuất bản tờ báo “Nagara Vatta (Angkor Wat) vào năm 1936. Nội dung của tờ báo là đã kích Việt kiều.

11. Các vụ thảm sát người Việt trong lịch sử Cao Miên – cáp duồn:

Trước khi liệt kê danh sách tất cả những vụ cáp duồn đã xảy ra trong lịch sử trên lẻnh thổ CM và lảnh thổ VN, xin lập lại sự giải thích về cáp duồn đã ghi trong phần I:

Cáp duồn là gì?

Cáp : chặt đầu; duồn: yuon hay người Việt.

Tại sao gọi “yuon” ?

Người dân ở những nước bị ảnh hưởng văn hoá Ấn độ gọi dân khác văn hoá là yuon, yuan, vv. biến thể từ chữ yuavana, có nghĩa là man di – một hình thức tự cao tự đại, cho rằng văn hoá của mình là số một. Chính vì vậy mà người Thái, các dân tộc sống ở Mã Lai, người K, Bahnar, Stien, Rade các dân tộc thiểu số sống ở VN như: Bà Na, Stiêng, Ra Đê (Bahnar, Stien, Rade) đều dùng yuon để gọi người Kinh. Thời buổi văn minh, tên gọi yuon không còn phổ biến (ngoại trừ người K), vì có ý nghĩa không lành mạnh. Nên biết thêm là người Miến Điện, người theo đạo hồi sống ở Tây Nam TQ, vv, cũng gọi người TQ là yuon. Tuy nhiên, người K tìm đủ mọi cách biện hộ rằng họ không kỳ thị, đừng ép họ phải bỏ chữ duồn.

Có thể gọi cáp duồn là cuộc thảm sát người Việt gây ra bởi người Khmer. Thông thường cáp duồn đi kèm với nhiều tệ nạn như cướp bóc, hảm hiếp phụ nữ, chiếm đoạt tài sản.

Dân K họp thành từng đoàn có vũ trang dao gậy, xông vào đuổi VK ra khỏi nhà, không cho mang theo cái gì cả. Nếu chống cự thì họ chặt đầu hay bắt giử phụ nữ để hảm hiếp tập thể. Dĩ nhiên là VK bị mất trắng tay. Có nhiều người nhanh chân chạy về hướng trụ sở huyện thì bị nhóm cáp duồn khác chận lại lột sạch luôn quần áo, nên sau đó phải lấy lá che thân.

Cáp duồn ở Cambodia chủ yếu là xua duổi để chiếm đoạt, thuy nhiên cũng có nhiều người chết vì chậm chân hay vì chống cự lại. Xác chết thường bị vức xuống giếng, ao, sông hay lạch. Ở VN, có hai loại cáp duồn: do người K đang sống ở VN hay do người K xâm nhập vào lảnh thổ VN gây ra. Cả hai loại đều xảy ra ban đêm: bất ngờ tấn công, hôi của đem về làng của họ, gặp đàn ông là chặt đầu, gặp phụ nữ thì bắt hiếp tập thể – nhiều khi họ mang về CM và chỉ thả nạn nhân sau một vài ngày.

#1. Sử Miên ghi: năm 1730 một người Lào tị nạn, tự xưng là tiên tri đã xúi giục một nhóm người K cuồng tín hạ sát tất cả người Việt nào mà họ bắt gặp trong vùng Banam. Đây là vụ cáp duồn đầu tiên.
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:58

#1. Sử Miên ghi: năm 1730 một người Lào tị nạn, tự xưng là tiên tri đã xúi giục một nhóm người K cuồng tín hạ sát tất cả người Việt nào mà họ bắt gặp trong vùng Banam. Đây là vụ cáp duồn đầu tiên.

#2. Theo nhà văn Pháp Louis-Eugene Louvet, viết trong cuốn sách “Đức cha Adran” : tháng 11/1769 và giữa năm 1778, toán cướp K đã tấn công trụ sở nhà thờ của Giám mục Bá Đa Lộc ở Hà Tiên. Họ chỉ chém giết, hảm hiếp con chiên người Việt, vì kỳ thị chủng tộc.

#3. Sử Miên ghi: Quốc vương Ang Non II ( 1775-79) rất ghét người Việt, đến nỗi có lần ngài nghĩ sẽ tàn sát tất cả người Việt trên đất CM.

#4. Sử Miên ghi: Dưới triều Ang Chan II (1796-1834), năm 1818, một số người Việt bị tàn sát ở tỉnh Baphnom và quân VN đang đóng ở CM đã đến nơi can thiệp.

#5. Thời VN bảo hộ, sửa đổi cơ cấu hành chánh, vi phạm phong tục tập quán của người K khiến giới sư sãi và dân chúng phẫn uất. Năm 1845, toàn dân K đứng lên chống đối, nhiều cuộc tàn sát VK đã diễn ra ở những nơi VK cư ngụ và tại các tỉnh miền Tây của VN.

#6. Chiến dịch cáp duồn 1945-46 đã được trình bày bên trên.

#7. Năm 1970, chính phủ Cao Miên (Lon nol) phát động chiến dịch cáp duồn toàn quốc. TV, báo chí đua nhau kể tội, nói xấu người Việt mỗi ngày. Bức hình “ba cái đầu người K chụm lại làm ba ông táo” lại tái xuất hiện và nhiều bài viết kích động có tính bịa dặt được tuyên tuyền liên tục nhằm dấy lên làn sóng bài Việt, vốn luôn âm ỉ trong lòng người dân K, sẵn sàng bùng lên khi có cơ hội hoặc bị khích động. Có từ hàng chục đến cả trăm xác chết Việt kiều trôi trên sông Mekong và hồ Tonle Sap mỗi ngày. Người Việt bị ruồng bắt để bắn giết một cách dã man.

Giới ngoại giao quốc tế đang có mặt ở Nam Vang can gián chính phủ CM, nhưng không được, nên người Âu, Mỹ, Á lục tục rời bỏ CM. Do đó, đã có hàng trăm ngàn (không tìm ra một con số nào) Việt kiều bỏ của chạy lấy người về Việt Nam. Theo thống kê của VNCH thì có khoảng 400 ngàn VK đang sống tại CM vào năm 1969.

Vẫn còn nhiều VK không chịu hồi hương. Tại vì đa số VK thân với miền Bắc nên họ sợ bị rắc rối khi về miền Nam. Sợ bị đi bắt đi lính. Không còn thân nhân tại VN. Vì sự nghiệp quá to. Vì có vợ hay chồng là người Khmer. Số còn lại nguỵ trang, thay tên, đổi họ, đổi nơi cư trú, để tồn tại. Có nhiều gia đình VK sống dựa vào sự che chở của ông bà chủ người ngoại quốc. Một số chạy vào rừng theo quân dội miền Bắc.

#8. Chế độ Pol Pot xua đuổi từ 150 đến 200 trăm ngàn Việt kiều còn lại về Việt Nam sau khi lên ắm quyền. Năm 1977-78, đã có nhiều vụ cáp duồn từ bên kia biên giới tràn vào lãnh thổ Việt Nam, làm thiệt mạng khoảng 5-10 (?) ngàn người.

Nói chung, vào những thế kỷ trước, cáp duồn chỉ xảy ra lẻ tẻ, tự phát bởi người dân tại một vài đia phương và mức độ thiệt hại không lớn lắm. Tuy nhiên, từ lúc Cambodia trở nên độc lập; dân trí của người Cambodia càng cao; VK ở CM càng đông; quyền lợi trong xã hội của người M càng bị đụng chạm – vì tài năng và sức cạnh tranh trong cuộc sống của người Khmer yếu kém, thua xa VK – thì nạn cáp duồn càng xảy ra quy mô trên toàn quốc do chính quyền Cambodia ngấm ngầm (1945-46) hay công khai phát động (1970).

Rất tiếc, không có thông kê nào ghi nhận có bao nhiêu VK và bao nhiêu người V tại VN đã bị giết một cách dã man trong suốt chiến dịch cáp duồn năm 1945-46, 1970 và 1977-78. Tôi nghĩ, dù không nói ra, nhưng nhiều người có quan tâm đến thời cuộc, gần như đều có chung suy nghĩ: Cáp duồn chắc chắn sẽ xảy ra lần nữa, với mức độ không nghiêm trọng như trong quá khứ, nếu Sam Raíny lên ngôi Thủ tướng Cambodia.

12. Một vài khác biệt giữa cộng đồng Tàu kiều và Cộng đồng Việt kiều:
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 00:58

12. Một vài khác biệt giữa cộng đồng Tàu kiều và Cộng đồng Việt kiều:

Có thể nói người Tàu nắm mọi hoạt động kinh tế: nhà buôn lớn, nhỏ; đại lý phân phối, thu mua; kể cả kiểm soát phần lớn việc xuất nhập khẩu. Nói là T chứ đa số đến từ Chợ Lớn. Kinh nghiệm lâu năm nơi xứ người đã dạy cho người Tàu cách sống có hội, có tổ chức và sống phù hợp với người K, văn hoá K. Lúc mới đến định cư, người T (người V) đều nghèo, người Tàu thường chụp cười liền một cô vợ K (mặc dù nhiều người đã có vợ bên Tàu và sẽ đưa sang sau đó) để học hỏi ngôn ngữ, phong tục tập quán và tạo bộ mặt thân thiện, hoà đồng với người bản xứ. Khi có con, thì họ quyết tâm biến con họ thành Tàu hoàn toàn. Con gái họ nhất định không gả cho người bản xứ. Nếu có thì chỉ gả cho nhà giàu hoặc quan lớn người K để có cơ hội nhờ vả khi cần.

Không như nhiều VK, họ cư xử khôn ngoan, không để lộ cho người K (bình thường) nhận thấy cái xấu, cái sự khinh khi và kỳ thị người K của họ. Lúc tiếp xúc, mua bán với người Miên họ cũng hay hạ mình gọi ông chủ, bà chủ. Họ ý thức rằng quyền lợi của mỗi người T đều có liên hệ với nhau, nên họ luôn luôn quyết tâm đấu tranh và che chở cho nhau một cách đồng nhất. Có thể nói: sức mạnh, tài năng của Tàu kiều là sức mạnh, là tài năng của cả một công đồng hàng trăm hay ngàn người T.

Thế nhưng, cộng đồng 3- 400 ngàn VK thật ra không có sức mạnh tập thể, bởi vì không thành lập những tổ chức đại diện, không đồng nhất, không có/được hướng dẫn cụ thể về đời sống mới nơi xứ người: cách hội nhập vào đời sồng văn hoá K, cách đối phó với những tình huống phức tạp, nên khi gặp nạn thì phần ai nấy lo, nấy chạy. Có quá ít VK tìm hiểu, để ý, và ý thức đúng mức những chuyện tế nhị, nhạy cảm đã xảy ra giữa CM và VN trong lịch sử nhằm tránh tạo thêm sự hiểu lầm giữa hai dân tộc và những rắc rối có thể xảy ra nếu VK hành xữ kém khéo léo, nhưng tin tức, tài liệu, bài viết liên quan cũng hiếm thấy xuất hiện trên các báo chí tiếng Việt – ngay cả thời buổi ngày nay, hình như việc này cũng chưa được chú ý lắm.

Là dân viễn xứ, sống trên đất người ta, không những coi thường văn hoá và màu da sậm của người K, VK còn hiếm khi lấy vợ hay chồng người K. Có thể vì có vị trí huy hoàng trong xã hội dưới thời Pháp thuộc và vì đã có công trong việc giáo hoá người K nên đa số VK an phận, cảm thấy như đang sống ở quê nhà, mặc nhiên xem người K thấp hèn, ngu dốt không bằng người mình (có lẻ một phần bị ảnh hưởng tâm lý từ người P). Cái bậy nữa là, dưới thời Pháp thuộc có một số ít người Việt lên mặt, bắt nạt người K. Chuyện gì sẽ xảy ra đã xảy ra: VK đã trở tay không kịp, khi người K có cơ hội ra tay.

Một điều đặc biệt khác mà chỉ xảy ra trong cộng đồng người Việt: nạn bất đồng chính kiến một cách quá khích và không cần thiết (với mức độ như vậy) cho một cộng đồng xa xứ . Điều này vô tình đã làm hao tổn biết bao nhiệt huyết, tinh thần & tài chính; làm chia rẽ VK và quên đi chuyện lớn trước mắt cần có sự đoàn kết để đối phó. Nói một cách khác, trong khi hiểm hoạ đang chụp xuống toàn thể VK thì nhiều người ham mê chính trị, những khuông mặt sáng của cộng đồng lại chỉ lo bận rộn, tìm cách hơn thua giữa VK với nhau. Số còn lại thì, ngay cả những người đang có địa vị quan trọng trong chính quyền thực dân, trong các tổ chức quốc tế, tổ chức nhân đạo, và có công lớn đối với Hoàng gia Cao Miên vẫn thụ động, xui tay nhìn tình hình và những bất công xảy ra.

IV. NHẬN XÉT CHUNG TÌNH HÌNH NGƯỜI VIỆT TẠI CAMBODIA:
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 01:00

IV. NHẬN XÉT CHUNG TÌNH HÌNH NGƯỜI VIỆT TẠI CAMBODIA:

Nói chung, khi Cambodia trở thành một quốc gia độc lập thì nơi đây từ từ không còn là nơi dễ làm tiền đối với Việt kiều. Từ địa vị được nể trọng cưng chìu thời Pháp, VK bắt đầu sống trong tình trạng cảnh giác, bị đe dọa, bị làm tiền và tù tội có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Giá trị của VK đang đi xuống dần mỗi ngày. có bị làm tiền, lừa gạt VK cũng làm thinh; tố cáo cũng chẵng được gì, có khi còn mang hoạ vào than. Luật pháp lúc nào cũng che chở cho người K. Nạn hối lộ và làm tiền ngoại kiều phát triễn tột bậc. luật cấm nghề, thủ tục nhập tịch, thay đổi thẻ căn cước, thẻ thường trú, đồng thời với chủ trương ngấm ngầm kỳ thị VK đã làm tán gia bại sản hàng chục ngàn gia đình VK (tính từ 1945). Người nào lấy được quốc tịch cũng chưa hẳn thoát được những âm mưu đầy hận thù, thâm độc được tính toán kỷ càng và được phối hợp ăn ý giữa các cấp chính quyền đang chờ đợi phủ lên đầu họ. Thật vậy, nạn cáp Duồn toàn Cambodia đã xảy ra vào năm 1970 – do chính phủ CM công khai chủ trương phát động – nhắm vào VK dù có quốc tịch hay không.

Nếu cộng đồng VK sống có tổ chức hơn, đoàn kết hơn, thì chắc chắn sự thiệt hại sẽ giảm thiểu. Tuy nhiên, một khi sử sách hoàng gia Cao Miên cứ ghi toàn những chuyện cư xữ dã man, phân biệt đối với người Việt; chính quyền ngấm ngầm hay công khai xúi dục dân chúng vùng lên cướp của, hiếp đáp và dùng bạo lực đối với VK; cộng với chính sách kỳ thị, công khai triệt đường sinh sống, xua đuổi Việt kiều ra khỏi đất Miên thì dĩ nhiên là khó có giải pháp phù hợp để đối phó.

Khó biết có bao nhiêu VK đang sống ở Cambodia, vì nhiều lý do, ước đoán từ 200 đến 500 ngàn. Thời bảo hộ, VK đã là nguồn nhân lực chính yếu trong hầu hết mọi nghành nghề liên quan đến chính phủ và người nước ngoài. Sau khi CM độc lập, Tài năng, sức lực của VK không còn được trọng dụng mà còn bị kiểm soát và hạn chế. Chính sách kỳ thị và nạn cáp duồn, những phong trào bài xích, cấm đoán, triệt đường sống người Việt đã dồn VK vào cảnh bần cùng, thất học, không có cơ hội vươn lên, rất đáng thương.

Tuy nhiên, những người K quá khích, theo chủ nghĩa dân tộc và nhất là người gốc K đang sống ở nước ngoài vẫn không chấp nhận sự tồn tại của VK trên lảnh thổ CM. Vì vậy, họ không ngừng phát động, kêu gọi sự bài xích VK; bịa đặt đủ điều để vu khống, nói xấu người VN, thông qua báo chí, internet và bằng miệng với du khách nước ngoài – hung hăng nhất là vào những dịp tranh cử. Họ khích động người K đang sống ở VN nổi lên tranh dành quyền lợi và đất đai. Họ cố tình không công nhận những sự nhượng bộ đất hạ Chân Lạp của các Quốc vương Khmer đối với các vua VN và nhà họ Mạc.

Hy vọng, sẽ có lúc, khi cuộc sống người K được nâng cao hơn nhiều, vài người Khmer có uy tín hàng đầu sẽ mạnh dạn lên tiếng công nhận sự đóng góp quá lớn lao không thể nào chối cải của người Việt và nước Việt trong suốt hơn 100 năm qua, đối với CM và người K. Tôi nghĩ, khi nào người Khmer làm được điều đó thì mới mong hiểm hoạ cáp duồn và sự bài xích, kỳ thị người Việt Nam sẽ chấm dứt.
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Re: Việt kiều ở Cambodia

Gửi bàigửi bởi Daiviet vào ngày 03 Tháng 11 2010 01:03

Tôi nghĩ, khi nào người Khmer làm được điều đó thì mới mong hiểm hoạ cáp duồn và sự bài xích, kỳ thị người Việt Nam sẽ chấm dứt.

#1. Bàn tay VK xây lên gần như toàn bộ mọi công trình công cộng hiện đại từ khi Pháp đặt guồng máy bảo hộ cho đến ngày hôm nay;

#2. VK đã góp phần quan trọng trong việc giáo hoá người K.

#3. VN đã gián tiếp giúp CM lấy lại nền độc lập vào cuối năm 1953; và quan trọng nhất là đã cứu dân Cambodia thoát khỏi nạn diệt chủng.

Từ hơn 10 năm qua, người giàu nhất ở CM là ông Sok Kong, có gốc Việt. Đóng góp của ông ta vào việc xây dựng đất nước Cambodia là chưa từng có trong lịch sử CM – sở hữu 100 trạm xăng hiện đại, nhiều khách sạn hàng sang, xí nghiệp, công ty. Sokimex Group đã và đang điều hành quản lý khu du lịch Angkor Wat, Bokor Hill Station, và nhiều dự án khổng lồ ở PP, Sihanoukville, vv. Chỉ có một thiểu số nhỏ thành công hay rất thành công. Có thể chia làm ba loại VK:

#1. Tuyệt đối che dấu nguồn cội mọi lúc mọi nơi, ngay cả với trẻ con của mình – giống như cảnh người Do Thái sống dưới chế độ phát xít Đức. Sống ngụy trang giống y như người K mỗi khi ra đường, tức là nói tiếng K, dạy con nói tiếng K và ăn mặc, cư xữ như người K chính hiệu. Ít có người nào công khai xác nhận họ là người VN, dù trong tâm tâm họ vẫn tự hào là người Việt Nam,.

#2. Hội nhập và đồng hoá hoàn toàn thành người K, chỉ chơi với người K, thay tên đổi họ. Có người còn thỉnh thoảng nói xấu, tỏ ra khinh khi VK để chứng minh mình là dân K 100%.

#3. Sống trong những làng nổi trên hồ Tonle Sap hay tại các khu làng Việt Nam, sống trong môi trường hoàn toàn Việt. Đa số thất học, không biết viết chữ VN, chịu cảnh nghèo khó triền niên, khoảng một nữa ở nhà thuê. Nhiều người không có lấy một tờ giấy khai sinh. Thỉnh thoảng có người băng ruộng vượt biên quay về VN đẻ con, rồi băng ruộng vượt biên trỏ lại CM. Tại sao? vì về VN thì ít ra con của họ cũng có được mảnh giấy khai sinh thật. Người vợ của một cặp vợ chồng trẻ hành nghề bán hàng rong và mở lớp dạy tiếng V miễn phí cho trẻ em VK trong một con hẻm nghèo ở Siem Reap đã làm như vậy cách đây 4 năm.

Vì không có lối thoát, vì tương lai tăm tối, nên hàng chục ngàn người có liên quan đến đĩ điếm, ma cô. Có người tham gia băng đảng, buôn thuốc phiện, buôn lậu xuyên biên. Người giỏi thì có sạp hàng bán lẻ ở các chợ. Người chăm chỉ, muốn có tiền thì: buông gánh bán bưng (mặc đồ bà ba) đi mọi nẽo phố, đẩy xe ba gác đi thu mua đồ cũ, thợ xây cất, thợ sửa xe hơi xe máy, thợ sửa TV, máy móc điện tử. Còn lại là mấy chục hay cả trăm ngàn dân VK sống bằng nghề cá.

Đây cũng là VK mà người nước ngoài hay du khách từ VN sang dễ dàng nhìn thấy. Nhìn cảnh lam lủ, bần cùng của VK, người K, thuộc thế hệ trẻ, càng hãnh diện tự hào cho là dân tộc K giỏi hơn, có học thức, siêng năng, khôn ngoan và biết cách tiến thân bằng con đường lương thiện, chứ không như người Việt – đa số không ra gì, thất học, không chịu hội nhập, hành nghề bán thân để kiếm sống là chính (đây là suy nghĩ thường thấy ở các blog và diễn đàn của người K quá khích). Họ thường cho rằng hầu hết mọi tệ nạn trong xã hội CM đều do VK gây ra.

Họ suy luận rằng người Pháp thiên vị, việc lớn nhỏ gì cũng ưu tiên cho Việt Nam, trường học ở VN quá nhiều, trong khi ở CM quá ít. Vì vậy, thời Pháp người Việt chỉ hênh thôi, chứ thật ra không có gì giỏi hơn người K cả. Hãy nhìn cộng đồng VK hiện tại để hiểu điều đó.

Họ không biết là, vào thể kỷ 19, các giáo sĩ, những nhà thám hiểm, khảo cổ Tây phương không thể tin Angkor Wat, Angkor Thom, vv, là do người Khmer xây nên. Thật là khó tin khi quan sát khu Hoàng thành CM ở Udong – không có lấy một ngôi nhà làm bằng đá hay gạch như những Wat ở Siem Reap và preah vihear temple – tất cả chỉ được làm bằng tre và cây.

Tôi cho rằng, the famous French expression: “The Vietnamese plant rice, the Cambodians watch it grow and the Lao listen to it grow.” phản ảnh thật sâu sắc sự so sánh giữa ba dân tộc chính ở Đông Dương. Có thể người K đã và đang làm mọi cách để chứng minh thành ngữ này sai, ít ra là tại đất nước của họ. buồn thay!!! :cry:
Daiviet
Thành viên mới
 
Bài viết: 20
Ngày tham gia: 30 Tháng 10 2010 01:58
nghề nghiệp: that nghiep



Trang kế tiếp

Quay về Viết phóng sự

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách